Trong hệ thống Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI), Công nhận (Accreditation) và Thừa nhận (Recognition) chính là cơ sở để khẳng định năng lực, sự khách quan, độc lập của một tổ chức đánh giá sự phù hợp. Nếu chứng nhận xác nhận sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn, thì công nhận là hoạt động xác nhận năng lực của chính tổ chức đi chứng nhận.
Sản phẩm Halal
Dịch vụ Halal / Dịch vụ Thân thiện với người Hồi giáo
Thông tin
Công nhận và Thừa nhận
Công nhận Halal là quá trình một tổ chức công nhận có thẩm quyền và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế TCVN ISO/IEC 17011 tiến hành đánh giá toàn diện về hệ thống quản lý, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tính độc lập của tổ chức chứng nhận Halal.
Trong lĩnh vực Halal, hoạt động công nhận mang tính chất quyết định bởi nó đảm bảo rằng các chứng chỉ Halal cấp ra tại Việt Nam không chỉ đúng luật pháp quốc gia mà còn phải được chính quyền và các cơ quan tôn giáo tại các thị trường Hồi giáo quốc tế công nhận.
Để hàng hóa lưu thông toàn cầu mà không bị vướng mắc bởi rào cản kỹ thuật, hệ thống NQI vận hành dựa trên các thiết chế thừa nhận ở nhiều cấp độ:
- Thừa nhận giữa các tổ chức công nhận: Các tổ chức công nhận quốc gia tham gia vào diễn đàn của các tổ chức hợp tác công nhận khu vực và thế giới (như IAF, ILAC, APAC, Global ACI) thông qua các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau MRA/MLA, tạo nền tảng pháp lý vĩ mô để thừa nhận kết quả đánh giá. Hiện nay, đối với ngành Halal, chưa có một diễn đàn thừa nhận chung dành cho các tổ chức công nhận trên thế giới.
- Thừa nhận trực tiếp giữa các tổ chức chứng nhận (CB-to-CB Recognition): Bên cạnh hệ thống công nhận, các tổ chức chứng nhận Halal có thể ký kết các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trực tiếp (song phương) hoặc thông qua sự phê duyệt, công nhận năng lực từ các cơ quan tôn giáo và cơ quan thẩm quyền nước ngoài. Điều này giúp chứng chỉ Halal nội địa có giá trị thông hành tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm.
- Bước tiến của Hạ tầng chất lượng Việt Nam: Hiện nay, Văn phòng Công nhận Chất lượng Quốc gia (BoA) đang tích cực nghiên cứu và triển khai chương trình công nhận Halal theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13888 dành riêng cho các tổ chức chứng nhận Halal trong nước. Đây là bước đột phá quan trọng nhằm chuẩn hóa năng lực nội địa, tạo điều kiện phát triển, cải tiến cho các tổ chức chứng nhận Halal tại Việt Nam.
Theo quy định tại Nghị định số 22/2026/NĐ-CP và Nghị định số 127/2026/NĐ-CP:
- Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động công nhận, tiếp nhận hồ sơ đăng ký hoạt động của các tổ chức công nhận và tổ chức chứng nhận Halal.
- Các tổ chức đánh giá sự phù hợp phải duy trì đầy đủ các điều kiện pháp lý, năng lực nhân sự chuyên gia (có chuyên gia là người Hồi giáo được đào tạo bài bản) và thực hiện chế độ báo cáo minh bạch trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng.
Đóng vai trò là tổ chức chứng nhận Halal công lập tiên phong, Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT) luôn đi đầu trong việc thiết lập hệ thống quản lý chất lượng đạt chuẩn mực quốc tế.
Kể từ Tháng 7/2026, HALCERT đã nhận được sự công nhận từ Trung tâm Công nhận Vùng Vịnh (GAC) cho các chương trình Chứng nhận Halal của mình. Sự bảo chứng từ dấu công nhận quốc tế này chính là bằng chứng vững chắc chứng minh năng lực chứng nhận của HALCERT hoàn toàn đáp ứng các chuẩn mực quôc tế về Halal.
Thử nghiệm
Trong hệ thống Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI), Thử nghiệm đóng vai trò là “chốt chặn khoa học”, cung cấp các bằng chứng khách quan, định lượng và chính xác để hỗ trợ cho quyết định chứng nhận. Nếu hoạt động đánh giá tập trung vào việc kiểm soát quy trình và hệ thống trên hồ sơ, thì hoạt động thử nghiệm là minh chứng vật lý xác thực nhất về tính toàn vẹn của sản phẩm.
Thử nghiệm Halal là sự kết hợp giữa công nghệ phân tích hiện đại và các nguyên tắc tôn giáo, nhằm phát hiện sự hiện diện của các yếu tố Haram (cấm) hoặc Najis (ô uế) dù là nhỏ nhất trong sản phẩm. Việc thử nghiệm được áp dụng cho nguyên liệu đầu vào, chất hỗ trợ chế biến, thành phẩm và cả việc kiểm tra dư lượng trên bề mặt thiết bị sản xuất.
Để bảo vệ người tiêu dùng và đáp ứng chuẩn mực đánh giá Halal, thử nghiệm Halal tập trung vào các nhóm phân tích chuyên sâu:
- Phân tích DNA động vật cấm: Sử dụng các phương pháp sinh học phân tử tiên tiến (như Real-time PCR) để phát hiện DNA của lợn (Porcine DNA), chó hoặc các dẫn xuất từ động vật không được phép.
- Định lượng hàm lượng cồn (Ethanol/Alcohol): Sử dụng sắc ký khí (GC) để đo lường chính xác nồng độ cồn trong thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm và dược phẩm, đảm bảo nồng độ này tuân thủ ngưỡng cho phép của các tiêu chuẩn Halal quốc tế.
- Phân tích nguồn gốc vật liệu: Xác định nguồn gốc của các phụ gia phức tạp (như gelatin, glycerin, chất nhũ hóa) để chứng minh chúng có nguồn gốc từ thực vật, tổng hợp hóa học hay từ động vật.
Để tham gia vào chuỗi cung ứng và kiểm soát chất lượng Halal, các tổ chức thử nghiệm không chỉ phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp chung, mà còn phải tuân thủ:
- Hệ thống quản lý và năng lực hoạt động đáp ứng chuẩn mực quốc tế TCVN ISO/IEC 17025 (hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025 tương đương) theo quy định tại Nghị định số 22/2026/NĐ-CP.
- Các yêu cầu đặc thù về kiểm soát mẫu, chống nhiễm chéo và phương pháp luận chuyên ngành được quy định tại Nghị định số 127/2026/NĐ-CP về quản lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ Halal.
Các tổ chức chứng nhận không trực tiếp can thiệp vào kết quả thử nghiệm mà thiết lập cơ chế phối hợp, chỉ định với mạng lưới các phòng thử nghiệm đã được đăng ký, công nhận, khi phát sinh nhu cầu về thử nghiệm trong quá trình đánh giá.
Hiện nay, ở Việt Nam, chưa có đơn vị phòng thử nghiệm nào chuyên trách về thử nghiệm Halal. Trong trường hợp có nhu cầu thử nghiệm theo yêu cầu của chuyên gia đánh giá Halal, đơn vị có thể thực hiện theo từng chỉ tiêu tại các phòng thử nghiệm uy tín, ví dụ như:
- Phòng Thử nghiệm Hóa - Sinh và Cơ - Lý của Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT);
- Hệ thống Trung tâm Kỹ thuật 1, 2, 3 của Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia;
- Viện Kiểm nghiệm An toàn Vệ sinh Thực phẩm Quốc gia...
Chứng nhận
Trong cấu trúc Hạ tầng chất lượng (NQI), chứng nhận là chốt chặn kỹ thuật quan trọng. Đây là quá trình chứng minh bằng văn bản (của bên thứ ba độc lập) rằng sản phẩm, dịch vụ, quá trình hoặc hệ thống quản lý đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe của tiêu chuẩn Halal và quy định pháp luật tương ứng.
Khác với các hoạt động chứng nhận chất lượng thông thường (như ISO 9001, HACCP), chứng nhận Halal trong hệ thống NQI là sự giao thoa nghiêm ngặt giữa hai yếu tố:
- Tiêu chuẩn Khoa học kỹ thuật: Đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chí "Thoyyiban" – an toàn, vệ sinh, chất lượng và không gây hại cho sức khỏe con người. Do đó, doanh nghiệp thường được khuyến khích áp dụng hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm như ISO 22000 hay HACCP trước khi thực hiện đánh giá Halal.
- Luật Hồi giáo (Shari'ah): Đảm bảo tuyệt đối không chứa thành phần Haram (bị cấm) hoặc tiếp xúc với tạp chất Najis (ô uế) theo quy định của đạo Hồi. Sự tham gia của các chuyên gia đánh giá tôn giáo (Muslim Auditors) là điều kiện tiên quyết và bắt buộc trong mọi quy trình đánh giá.
Hệ thống chứng nhận Halal không chỉ kiểm tra thành phẩm cuối cùng (End-product testing) mà yêu cầu sự kiểm soát rủi ro trên toàn bộ chuỗi giá trị:
- Truy xuất nguồn gốc: Mọi nguyên liệu, phụ gia, hóa chất hỗ trợ chế biến cho đến quá trình lưu kho, vận chuyển logistics đều phải được minh bạch thông tin và đánh giá rủi ro nhiễm chéo.
- Hệ thống Đảm bảo Halal (HAS): Hoạt động chứng nhận đòi hỏi doanh nghiệp phải thiết lập được một hệ thống tự kiểm soát nội bộ (HAS) mạnh mẽ, đảm bảo tính Halal được duy trì liên tục, đồng nhất trong suốt chu kỳ sản xuất kinh doanh chứ không chỉ tại thời điểm chuyên gia đến đánh giá.
Hoạt động chứng nhận tạo ra sự minh bạch thông tin, loại bỏ sự bất đối xứng thông tin giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Dấu chứng nhận Halal hợp chuẩn đóng vai trò như "giấy tờ tuân thủ", giúp hàng hóa vượt qua các hàng rào kỹ thuật, tiếp cận với thị trường 2,2 tỷ người tiêu dùng Hồi giáo toàn cầu; đồng thời cũng đóng vai trò như một "giá trị gia tăng", trở thành câu chuyện marketing hấp dẫn, giúp nâng cao nhận thức và hình ảnh thương hiệu phát triển bền vững trong mắt người tiêu dùng.
Để Trụ cột Chứng nhận vận hành minh bạch và được quốc tế công nhận, hệ thống NQI Việt Nam yêu cầu các tổ chức chứng nhận phải tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực quốc tế như TCVN ISO/IEC 17065 và TCVN 13888 (Yêu cầu đối với tổ chức chứng nhận Halal). Hơn nữa, ngành kinh doanh dịch vụ đánh giá chứng nhận sự phù hợp cũng là một ngành kinh doanh có điều kiện, các tổ chức chứng nhận Halal cần phải thực hiện đăng ký hoạt động tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng yêu cầu của Nghị định số 127/2026/NĐ-CP.
Đóng vai trò là hạt nhân của hệ thống này, Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT) thực hiện sứ mệnh của một tổ chức chứng nhận Halal công lập tiên phong. Không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thương mại, HALCERT cung cấp cơ chế đánh giá độc lập, khách quan, hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái Halal và cấp chứng nhận bao quát toàn bộ các lĩnh vực từ thực phẩm, nông nghiệp công nghệ cao đến dược phẩm, logistics và du lịch.
Các Tiêu chuẩn khác
Bên cạnh hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN), để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật thương mại và thuận lợi xuất khẩu, các tổ chức chứng nhận tại Việt Nam, bao gồm HALCERT, cũng áp dụng đánh giá và chứng nhận dựa trên các hệ thống tiêu chuẩn Halal quốc tế, khu vực và nước ngoài được thừa nhận rộng rãi nhất trên thế giới.
Đây là bộ tiêu chuẩn mang tính định hướng toàn cầu do Viện Tiêu chuẩn và Đo lường các quốc gia Hồi giáo (SMIIC), trực thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) ban hành, được áp dụng làm cơ sở tham chiếu tại 57 quốc gia thành viên OIC.
- OIC/SMIIC 1: Yêu cầu chung đối với Thực phẩm Halal.
- OIC/SMIIC 4: Yêu cầu đối với Mỹ phẩm Halal.
- OIC/SMIIC 9: Yêu cầu đối với Dịch vụ Du lịch thân thiện với người Hồi giáo.
- OIC/SMIIC 17 (Phần 1, 2, 3): Yêu cầu đối với Hệ thống quản lý Chuỗi cung ứng Halal (Vận tải, Kho bãi và Bán lẻ).
Được quản lý và phát triển bởi Cục Tiêu chuẩn hóa Malaysia (DSM), bộ tiêu chuẩn MS là một trong những hệ thống chuẩn mực Halal tiên phong, có độ phủ sóng và mức độ tín nhiệm cao nhất toàn cầu, đặc biệt quan trọng tại khu vực ASEAN.
- MS 1500: Thực phẩm Halal – Yêu cầu chung về sản xuất, pha chế, xử lý và bảo quản.
- MS 2289: Mỹ phẩm Halal – Yêu cầu chung.
- MS 2424: Dược phẩm Halal – Hướng dẫn chung.
- MS 2400 (Phần 1, 2): Yêu cầu hệ thống quản lý Chuỗi cung ứng Halal (Dành cho Vận tải và Kho bãi).
- MS 2636: Thiết bị y tế Halal – Yêu cầu chung.
Đây là hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật được xây dựng và ban hành bởi Cơ quan Tiêu chuẩn hóa Vùng Vịnh (GSO), trực thuộc Tổ chức Hợp tác Vùng Vịnh (GCC). Khu vực này là khối các quốc gia Ả Rập Vùng Vịnh, bao gồm UAE, Ả Rập Xê Út, Qatar, Kuwait, Bahrain và Oman.
- GSO 2055-1: Sản phẩm Thực phẩm Halal – Yêu cầu chung.
- GSO 933: Yêu cầu đối với giết mổ động vật theo luật Hồi giáo.
- GSO 2578: Yêu cầu đối với Thức ăn chăn nuôi Halal.
- GSO 2652: Yêu cầu đối với Bao bì Halal.
- GSO 2680: Yêu cầu đối với Thiết bị y tế Halal.
Để tiếp cận thị trường tiêu dùng Hồi giáo quy mô lớn nhất thế giới là Indonesia, doanh nghiệp cần tuân thủ Hệ thống Đảm bảo Halal (Halal Assurance System - HAS 23000). Điểm cốt lõi của hệ thống này là yêu cầu bắt buộc thiết lập Ban Đảm bảo Halal nội bộ (IHC) tại doanh nghiệp, với nhân sự người Hồi giáo làm việc trực tiếp tại tổ chức.
Chính sách & Pháp lý
Khung pháp lý toàn diện: Kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái Halal và đồng hành cùng doanh nghiệp phát triển bền vững.
Đối với ngành Halal, đây là khung pháp lý quy định nguyên tắc xây dựng, thẩm định, công bố và áp dụng tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu chuẩn quốc tế và quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực.
Căn cứ pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc quản lý chất lượng, công bố tiêu chuẩn áp dụng, truy xuất nguồn gốc và hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với sản phẩm Halal.
Yêu cầu bắt buộc đối với nhóm thực phẩm Halal, đảm bảo sản phẩm không chỉ đáp ứng tính "Halal" (hợp pháp) mà còn phải tuân thủ tuyệt đối tiêu chí "Thoyyiban" (an toàn, vệ sinh, không gây hại cho sức khỏe).
Nghị định số 22/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (sửa đổi), ban hành ngày 16/01/2026 và có hiệu lực kể từ ngày ký, đã thiết lập nền tảng hạ tầng kỹ thuật (NQI) chung của quốc gia, làm tiền đề vững chắc cho việc triển khai các hoạt động đánh giá sự phù hợp Halal.
- Minh bạch hóa thông tin (Điều 10): Quy định việc xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, tập hợp toàn bộ dữ liệu về tổ chức đánh giá sự phù hợp, chuyên gia đánh giá và kết quả công bố hợp chuẩn/hợp quy.
- Công bố tiêu chuẩn áp dụng (Điều 25): Yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải thực hiện thông báo tiêu chuẩn áp dụng cùng các đặc tính cơ bản của sản phẩm, dịch vụ thông qua nhãn hàng hóa, bao bì hoặc tài liệu kèm theo. Tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung công bố và cung cấp đầy đủ tài liệu kỹ thuật chứng minh sự phù hợp khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền.
- Điều kiện khắt khe đối với Tổ chức đánh giá sự phù hợp (Chương V): Quy định rõ năng lực chuyên môn, nhân sự và hệ thống quản lý theo chuẩn mực quốc tế đối với dịch vụ thử nghiệm (TCVN ISO/IEC 17025), giám định (TCVN ISO/IEC 17020), và chứng nhận sản phẩm, chứng nhận hệ thống quản lý (TCVN ISO/IEC 17065, TCVN ISO/IEC 17021-1).
Được ban hành ngày 06/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/6/2026, Nghị định 127/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý chất lượng và chính sách phát triển sản phẩm, dịch vụ Halal, là văn bản pháp lý chuyên sâu đầu tiên, quy định toàn diện về quản lý nhà nước đối với hệ sinh thái Halal:
- Quản lý nhà nước thống nhất (Khoản 1, Điều 24): Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tiêu chuẩn, chất lượng, thử nghiệm và chứng nhận đối với sản phẩm, dịch vụ Halal trên phạm vi cả nước.
- Nguyên tắc hội nhập (Khoản 3, Điều 4): Việc xây dựng tiêu chuẩn, quy trình quản lý Halal của Việt Nam ưu tiên tham chiếu và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế được thừa nhận rộng rãi như OIC/SMIIC và Codex.
- Quy định bắt buộc về ghi nhãn (Khoản 1, Điều 8): Bắt buộc ghi rõ cụm từ “SẢN PHẨM HALAL” hoặc từ “HALAL” bằng chữ Latinh in hoa trên nhãn hàng hóa (trừ trường hợp sử dụng Dấu chứng nhận Halal hợp lệ), đảm bảo minh bạch thông tin cho người tiêu dùng.
- Điều kiện cấp phép Tổ chức chứng nhận Halal (Điều 11 & Điều 13): Tổ chức chứng nhận Halal tại Việt Nam phải thực hiện đăng ký hoạt động trực tiếp theo quy định của Nghị định 127, không phải đăng ký theo Nghị định 22. Tổ chức phải đáp ứng TCVN 13888 (hoặc tương đương) và sở hữu chuyên gia đánh giá là người Hồi giáo đã qua đào tạo chuyên môn.
- Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia (Khoản 3, Điều 23): Bộ Khoa học và Công nghệ vận hành Cơ sở dữ liệu Halal quốc gia như một cấu phần đồng bộ, tích hợp trực tiếp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hỗ trợ doanh nghiệp tra cứu quy định và kết nối giao thương.